Giảm vốn điều lệ công ty cổ phần

Theo quy định của pháp luật hiện hành, công ty cổ phần được quyền đăng ký giảm vốn điều lệ. Cụ thể,  Khoản 9 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ – CP hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp đã ghi nhận như sau: Sau 03 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, nếu số cổ phần được quyền phát hành quy định tại khoản 4 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp không được bán hết, công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành.”.

Tuy nhiên, việc giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần trên thực tế gần như không thể thực hiện được. Bởi, xuất phát từ quy định về vốn điều lệ của công ty cổ phần tại Khoản 4 Điều 6 Nghị định 102 nêu trên: “Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”. Bên cạnh đó, Khoản 4 điều 40 Nghị định 43 về Đăng ký doanh nghiệp quy định: Vốn điều lệ công ty cổ phần không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào bán”. Như vậy, với những công ty cổ phần thành lập sau ngày Nghị định 43 nêu trên có hiệu lực, thì vốn điều lệ của doanh nghiệp chỉ là số cổ phần đã phát hành và được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp đăng ký doanh nghiệp. Như vậy, vốn điều lệ không bao gồm cổ phần được quyền chào bán thì làm sao doanh nghiệp có tình trạng “cổ phần được quyền phát hành không được bán hết” để đăng ký giảm vốn?

Trở lại với quy định phải thanh toán đủ số cổ phần đã phát hành trong thời hạn 90 ngày. Vậy, trong thời hạn này, nếu có cổ đông không thanh toán đủ, công ty cổ phần có được quyền đăng ký giảm vốn điều lệ hay không? Ta có thể nhận thấy là pháp luật hiện hành không quy định được giảm vốn điều lệ trong trường hợp này. Có thể xử lý số cổ phần không được thanh toán đủ theo quy định tại  Khoản 3, Điều 84, Luật Doanh nghiệp “Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty; một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Và cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty. Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa được góp đủ, thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ đó”.

Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh

  • Văn phòng tại Hà Nội
  • Mobile: 09 33 11 33 66
  • Email: info@luatvietan.vn
  • Yahoo Chat
  • Skype Chat
  • Văn phòng tại Sài Gòn
  • Mobile: 0979 05 77 68
  • Email: saigon@luatvietan.vn
  • Yahoo Chat
  • Skype Chat
  • Tin tức & Thông tin

    Sáp nhập doanh nghiệp

    Sáp nhập doanh nghiệp Hồ sơ đăng ký sáp nhập doanh nghiệp: Theo quy định của pháp luật, hồ sơ sáp nhập Doanh nghiệp bao gồm những giấy tờ tài liệu sau đây: ­Hợp đồng sáp nhập: có sự thông qua của các thành viên/chủ sở hữu công ty/các cổ đông sáng lập của các công ty liên quan; ­Biên bản họp Hội đồng thành viên đối... [Chi tiết]

    Thủ tục thay đổi trụ sở công ty

    Thủ tục thay đổi trụ sở công ty Trước khi thay đổi trụ sở chính đến địa chỉ mới, doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ để nộp lên cơ quan nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Đối với trụ sở chính dự định chuyển đến cần đảm bảo: Không phải là nhà chung cư Nhà tập thể Nhà trong diện quy hoạch không được đăng ký... [Chi tiết]

    Giảm vốn điều lệ công ty cổ phần

    Giảm vốn điều lệ công ty cổ phần Theo quy định của pháp luật hiện hành, công ty cổ phần được quyền đăng ký giảm vốn điều lệ. Cụ thể,  Khoản 9 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ – CP hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp đã ghi nhận như sau: “Sau 03 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, nếu số... [Chi tiết]